Hướng Dẫn Sử Dụng Corel DRAW – Học thiết kế đồ họa


Ads_ngang
Website duancanhohungthinh.net bất động sản hưng thịnh chuyên mua bán nhà đất, đất nền, căn hộ có bài Hướng Dẫn Sử Dụng Corel DRAW – Học thiết kế đồ họa

Hướng Dẫn Sử Dụng Corel DRAW – Học thiết kế đồ họa


Bài 1
Nếu bạn đang xem những dòng này, hẳn bạn đã nghe “đâu đó” bảo rằng Corel DRAW là một công cụ dùng cho chuyện thiết kế đồ họa (graphics design). Giới họa sỹ trình bày và họa viên kỹ thuật ở nước ta cũng giống trên thế giới dùng Corel DRAW nhiều hơn so với những công cụ cùng loại như Aldus Freehand, Micrografx Designer hoặc Adobe Illustrator có lẽ vì khả năng tinh tế và tốc độ vượt trội của Corel DRAW trong việc thực hiện những sản phẩm “văn hóa trực quan” ( Corel DRAW chiếm hơn 85% thị phần so với những phần mềm cùng loại (theo dữ liệu của Unit Sales, PC Data). Bên cạnh ý tưởng sáng tạo của người thiết kế đồ họa, cũng có thể có thể nhận thấy dấu ấn của… Corel DRAW trong một số trang minh họa, quảng cáo, trong số tờ bướm, nhãn hiệu, bích chương,… đầy rẫy chung quanh ta hiện nay. Ngoài ra, các chức năng vẽ chính xác làm cho Corel DRAW ngày càng được ưu thích trong việc thiết kế tài liệu, báo cáo thuộc các lĩnh vực khoa học kỹ thuật.
Xin nói ngay rằng không cần thiết phải là họa sỹ trình bày hoặc họa viên kỹ thuật chuyên nghiệp, một khi bạn yêu mến màu sắc, đường nét và bố cục, Corel DRAW chắc chắn sẽ đem đến cho bạn những niềm vui tuyệt vời mỗi khi có nhu cầu, có cơ hội thể hiện thị hiếu thẩm mỹ của mình.
Tài liệu này giúp bạn tìm hiểu cách dùng Corel DRAW thuộc bộ Corel Graphics Suite 11 và rèn dũa những kỹ năng đồ họa căn bản. Cần nói rằng Corel Graphics Suite thực ra là một bộ công cụ đồ họa. Nếu cài đặt Corel Graphics Suite đầy đủ, bạn có trong tay nhiều công cụ khác nhau: Corel TRACE, Corel PHOTO-PAINT, Corel R.A.V.E.,… và quan trọng đặc biệt là Corel DRAW , “trái tim” của Corel Graphics Suite.
Cửa sổ Corel DRAW
Giả sử máy tính của bạn đã được cài đặt bộ công cụ Corel Graphics Suite. Ta bắt đầu nhé…
Khởi động Corel DRAW : Bấm nút Start, trỏ vào Programs, trỏ vào Corel Graphics Suite 11 và bấm vào Corel DRAW trên trình đơn vừa hiện ra.
Từ đây về sau, thao tác mà bạn cần kết thúc được trình bày trong bảng tương tự như trên. Cột trái của bảng miêu tả thao tác. Cột phải lý giải ý nghĩa, tác dụng của thao tác.
Khi thủ tục khởi động kết thúc, cửa sổ Corel DRAW xuất hiển thị trên màn hình (hình 1). Nếu chưa từng dùng Corel DRAW lần nào, có lẽ bạn sẽ hơi… hoảng (và ngao ngán nữa!) vì những chi tiết nhằng nhịt trong cửa sổ Corel DRAW. Thực ra không có gì gớm ghê lắm đâu. Trấn tĩnh một chút, phân biệt từng bộ phận của cửa sổ Corel DRAW, bạn sẽ tự tin trở lại.

Hình 1
Như bạn thấy ở hình 1, chỗ trên cùng của cửa sổ Corel DRAW là thanh tiêu đề (title bar), nơi hiển thị tên bản vẽ hiện hành ( Corel DRAW tự động lấy tên bản vẽ mới là Graphics1). Ngay dưới thanh tiêu đề là thanh trình đơn (menu bar). Gọi như vậy vì thanh này nêu tên các trình đơn. Mỗi trình đơn có 1 lô mục chọn, cấp phép ta thi hành các thao tác khác nhau. Chẳng hạn trình đơn Effects giúp bạn tạo ra các hiệu ứng đặc biệt.
Bấm vào mục Effects trên thanh trình đơn. Trình đơn Effects hiện ra (hình 2)

Hình 2

Phần trống trải nhất trên cửa sổ Corel DRAW là miền vẽ (drawing area). Giữa miền vẽ là trang in (printed page), được biểu diễn dưới dạng hình chữ nhật có bóng mờ phía sau. Chỉ có những đối tượng (object) nằm trong trang in mới được in ra giấy mà thôi. Nếu đối tượng có phần nào nằm trong trang in, phần nào nằm ngoài trang in, chỉ có phần nằm ở phía trong trang in được in ra giấy.
Bằng cách bày ra trang in ngay trên màn hình, Corel DRAW giúp bạn hình dung rất rõ ràng bố cục của bản vẽ trên giấy, làm cho công việc thiết kế trở nên tự nhiên, rất giống cách làm truyền thống. Quanh miền vẽ lại còn có thước đo (ruler) dọc và ngang, cấp phép ước tính dễ dàng kích cỡ thực thụ trên giấy của các đối tượng và khoảng cách giữa chúng.
Phía dưới thanh trình đơn và bên trái miền vẽ là các thanh công cụ (toolbar). Gọi như vậy vì đấy là nơi chứa các công cụ làm việc, tương tự hộp “đồ nghề” của bạn.
Mỗi công cụ xuất hiển thị trên thanh công cụ dưới dạng một nút nhấn và đều có tên thường gọi riêng (tiếng Anh kêu bằng tooltip). Để biết công cụ nào đó kêu bằng gì, bạn trỏ vào công cụ ấy và ngồi đợi chừng một giây. Một ô nhỏ màu vàng hiện ra cạnh dấu trỏ chuột, trình bày tên công cụ đang xét.
– Bấm vào nơi nào đó trên miền vẽ. Trình đơn Effects biến mất
– Trỏ vào một công cụ nào đó tùy ý bạn trên thanh công cụ ở bên trái miền vẽ và chờ chừng một giây. Xuất hiện một ô nhỏ màu vàng nêu tên công cụ đang xét (hình 3)

Hình 3
Có hơi nhiều mục chọn trên các trình đơn được biểu diễn bằng công cụ rõ ràng treên thanh công cụ giúp bạn thao tác tiện lợi. Khi đã quen với Corel DRAW , chắc chắn bạn sẽ thích “vớ lấy” các món cần có trên thanh công cụ hơn là chọn mục tương đương trên trình đơn.
Bên phải miền vẽ là bảng màu (palette) gồm nhiều ô màu (color box), nhờ đấy bạn cũng có thể có thể chọn màu cho từng đối tượng của bản vẽ.
Thay đổi vị trí các thanh công cụ và bảng màu
Thực ra bạn cũng đều có thể tùy ý bố trí địa thế trên màn hình của bảng màu cũng giống của các thanh công cụ sao cho thuận tiện, không cần thiết phải không thay đổi cách bố trí hiện có. Rất đơn giản, bạn chỉ việc “nắm lấy” bản thân thanh công cụ (ở chỗ không có nút bấm) và kéo đến bất kỳ nơi nào bạn muốn. Thông thường, ta nắm lấy thanh công cụ ở khúc đầu (nơi có hai dấu vạch) là dễ hơn cả.
– Trỏ vào phần đầu thanh công cụ ở ngay dưới thanh trình đơn
– Kéo thanh công cụ đến giữa màn hình. Thanh công cụ tái hiện ở giữa màn hình dưới dạng một cửa sổ (hình 4)

Hình 4
Nhìn vào thanh công cụ giữa màn hình, bạn thấy tên thường gọi Standard, ngụ ý bảo rằng đấy là thanh công cụ chuẩn có những chức năng phổ biến (hầu hết công cụ trên Windows đều có thanh công cụ Standard chứ không riêng gì Corel DRAW ).
Như mọi cửa sổ trong môi trường Windows, bạn có thể di chuyển hoặc điều chỉnh kích thước cửa sổ Standard. Để di chuyển cửa sổ, chắc bạn đã biết, ta phải nắm lấy thanh tiêu đề của nó. Muốn co dãn cửa sổ, bạn trỏ vào biên cửa sổ sao cho dấu trỏ biến thành mũi tên hai đầu và kéo biên cửa sổ tùy ý để đạt được kích cỡ mong muốn.
Ghi chú
* Để di chuyển thanh công cụ từ địa thế cố định sang trạng thái “trôi nổi”, thay vì “nắm kéo”, bạn cũng có thể bấm-kép vào khúc đầu thanh công cụ (chỗ có hai dấu vạch).
– Kéo biên cửa sổ Standard để thay đổi hình dạng cửa sổ
– Trỏ vào thanh tiêu đề của cửa sổ Standard và kéo lên trên một ít
– Trỏ vào phần đầu thanh công cụ ngay dưới thanh trình đơn (ở chỗ có hai dấu vạch) và kéo đến nơi bên dưới thanh công cụ Standard. Thanh công cụ Property Bar xuất hiện bên dưới thanh công cụ Standard (hình 5)

Hình 5
– Trỏ vào phần đầu thanh công cụ bên trái miền vẽ và kéo đến nơi bên dưới thanh công cụ Property Bar
-Trỏ vào phần đầu bảng màu và kéo bảng màu đến nơi bên dưới thanh công cụ Toolbox
Bạn đã “quen quen” với thao tác trên các thanh công cụ rồi đó. Sau này, tùy theo công việc đang thực hiện, bạn cũng đều có thể “tha” các thanh công cụ đến những nơi thuận lợi nhất trên màn hình.
Thanh công cụ Toolbox là hộp “đồ nghề” rất là quan trọng mà bạn sẽ cần đến rất thường xuyên khi làm việc với Corel DRAW . Thanh công cụ Property Bar có nhiệm vụ cung cấp các phương tiện để bạn điều tiết thuộc tính của các đối tượng. Sau này bạn sẽ thấy rằng thanh công cụ Property Bar thay đổi linh hoạt như “cắc kè bông” tùy tho tình huống, tùy theo công cụ đang dùng và đối tượng được chọn.
Các thao tác vừa thực hiện giúp bạn thấy rằng ta cũng đều có thể chủ động điều chỉnh môi trường làm việc của mình như thế nào. Tuy nhiên giờ đây ta nên đặt các thanh công cụ vào lại địa thế như “thuở ban đầu”. Nói chung, đấy là cách sắp xếp hợp lý, chỉn chu nhất trừ khi bạn có yêu cầu “bức xúc” trong trường hợp nào đó.
– Trỏ vào thanh tiêu đề của cửa sổ Standard và kéo cửa sổ này đến nơi bên dưới thanh trình đơn. Cửa sổ Standard “đậu” vào chỗ cố định bên dưới thanh trình đơn, có dạng thanh nằm ngang
– Tương tự, kéo cửa sổ Property Bar đến chỗ bên dưới thanh công cụ Standard. Cửa sổ Property Bar “đậu” vào chỗ cố định bên dưới thanh công cụ Standard, có dạng thanh nằm ngang
– Kéo cửa sổ Toolbox đến biên trái cửa sổ Corel DRAW (biên trái màn hình). Cửa sổ Toolbox “đậu” vào chỗ cố định ở biên trái cửa sổ Corel DRAW , có dạng thanh thẳng đứng
– Kéo bảng màu đến biên phải cửa sổ Corel DRAW . Bảng màu trở lại tư thế thẳng đứng, bám dình vào biên phải cửa sổ Corel DRAW  
Bài 2
Trình đơn cảnh ứng
Có một cách mau chóng để làm thanh công cụ bất kỳ biến mất hoặc hiện ra: bạn bấm-phải vào thanh công cụ nào đó và tùy ý bật/tắt các thanh công cụ được liệt kê trên trình đơn vừa hiện ra (hình 1). Bạn chú ý, phải “nhắm” vào bản thân thanh công cụ, đừng nhắm nhầm vào các nút trên thanh công cụ.
Hình 1 

Trình đơn xuất hiện do thao tác bấm-phải được gọi chung là trình đơn cảnh ứng (context-sensitive menu). Nghĩa là trình đơn “tương ứng với hoàn cảnh” í mà! Gọi như vậy là do tùy theo bạn bấm-phải vào chi tiết nào trên màn hình, trình đơn hiện ra có những mục chọn liên quan đến chi tiết ấy. Trình đơn cảnh ứng liên kết với thao tác bấm-phải là phương tiện giao tiếp phổ biến trong Corel DRAW và trong môi trường Windows nói chung.
Bạn thử ngay xem…
-Bấm-phải vào thanh công cụ Property Bar. Trình đơn cảnh ứng hiện ra (hình 1) trình bày bản kê mọi thanh công cụ
Nhìn vào trình đơn cảnh ứng vừa hiện ra, bạn để ý, trước mỗi tên thường gọi thanh công cụ cũng có thể có dấu duyệt (check mark) hoặc không. Dấu duyệt ngụ ý bảo rằng thanh công cụ tương ứng đang hiện trên màn hình. Muốn bật/tắt thanh công cụ nào, bạn bấm vào tên thường gọi của nó trên trình đơn cảnh ứng.
– Bấm vào Toolbox trên trình đơn cảnh ứng. Thanh công cụ Toolbox biến mất
– Bấm-phải vào thanh công cụ Property Bar. Trình đơn cảnh ứng hiện ra. Lúc này trước tên Toolbox đã mất dấu duyệt vì thanh công cụ Toolbox ở tình trạng “tắt”
-Bấm vào Toolbox trên trình đơn cảnh ứng. Thanh công cụ Toolbox hiện ra
Chắc bạn đang “nóng máy”, muốn bắt tay vào chuyện vẽ vời chi đó ngay tức thì. Bạn bình tĩnh, ta nên “đi dạo” trong Corel DRAW thêm chút nữa, xem… cho biết.
Cửa sổ neo đậu
Tên gọi… kỳ cục nêu trên nhằm nói về một phương tiện giao tiếp phổ biến của Corel DRAW . Cửa sổ neo đậu (docker) là cửa sổ có khả năng neo đậu gọn gàng, cố định ở biên phải hoặc biên trái của cửa sổ Corel DRAW . Cũng như mọi loại cửa sổ, bạn cũng có thể có thể kéo cửa sổ neo đậu đến bất cứ chỗ nào trên màn hình tùy theo yêu cầu công việc. Tuy nhiên, có lẽ trạng thái “neo đậu” của loại cửa sổ này ở biên phải hoặc biên trái cửa sổ Corel DRAW vẫn thuận tiện cho bạn hơn hết (tùy theo bạn thuận tay phải hay tay trái). Ta thử cho hiển thị cửa sổ neo đậu Object Manager. Cửa sổ này dùng để trình bày các lớp (layer) của bản vẽ và liệt kê những đối tượng trên từng lớp.
– Bấm Tools trên thanh trình đơn và bấm Object Manager (để cho tiện, tương lai ta nói vắn tắt: chọn Tools > Object Manager). Cửa sổ neo đậu Object Manager xuất hiện, kết dính vào biên phải miền vẽ (hình 2). Miền vẽ bị co lại

Hình 2
– Để thấy rằng cửa sổ neo đậu cũng cũng có thể có thể “trôi nổi” linh hoạt như thanh công cụ, bạn trỏ vào hai vạch dài nằm ngang ở cạnh trên cửa sổ neo đậu và kéo cửa sổ “rời bến”.
– Trỏ vào cạnh trên cửa sổ neo đậu Object Manager và kéo nó sang trái, vào giữa miền vẽ. Cửa sổ neo đậu Object Manager trở thành cửa sổ bình thường (hình 3).

Hình 3
– Trỏ vào thanh tiêu đề của cửa sổ Object Manager, kéo sát vào biên phải miền vẽ. Cửa sổ Object Manager “cập bến”, trở về trạng thái neo đậu như lúc đầu
Bạn chú trọng dấu mũi tên kép chỉ qua phải ở đầu cửa sổ neo đậu. Nếu nhấn vào đấy, cửa sổ sẽ thu gọn thành một thanh dài, chạy dọc biên phải miền vẽ (cứ như loại cửa mành kéo vậy). Ta thực hiện thao tác này khi muốn tạm thời dẹp cửa sổ neo đậu qua 1 bên để thêm chỗ làm việc.
– Bấm vào dấu mũi tên kép ở đầu cửa sổ neo đậu Object Manager. Cửa sổ Object Manager bị thu gọn thành một thanh dài
– Lúc này ở đầu cửa sổ Object Manager thu gọn có dấu mũi tên kép chỉ qua trái. Nếu bạn bấm vào đấy, cửa sổ được “bung ra”, trở lại hình dạng cũ.
– Bấm vào mũi tên kép ở đầu cửa sổ neo đậu Object Manager. Cửa sổ Object Manager được khôi phục kích cỡ cũ

Các cửa sổ bản vẽ 
Khi bạn mở bản vẽ, Corel DRAW nạp bản vẽ lưu trữ trên đĩa vào bộ nhớ của máy và hiển thị bản vẽ trên màn hình. Bạn có thể mở nhiều bản vẽ cùng lúc. Mỗi bản vẽ được hiển thị trong cửa sổ dành riêng xem là cửa sổ bản vẽ (drawing window). Muốn làm việc với bản vẽ nào, một cách tự nhiên, bạn nhấn vào bản vẽ ấy để chọn. Bản vẽ được chọn gọi là bản vẽ hiện hành (current drawing). Theo mặc định, bản vẽ cuối cùng được mở là bản vẽ hiện hành.
Hiện thời, cửa sổ của bản vẽ hiện hành (bản vẽ Graphic1 trống trơn của ta) đang có kích thước cực đại. Để thấy rõ rằng bản vẽ hiện hành nằm ở phía trong 1 cửa sổ dành riêng, bạn thao tác như sau.
Bấm vào nút “phục hồi” (Restore) ở góc trên, bên phải cửa sổ bản vẽ (hình 4). Cửa sổ bản vẽ Graphic1 lấy kích cỡ “bình thường”, không phải kích thước cực to

Hình 4
Bạn thấy rõ cửa sổ Graphic1 nằm “chỏng trơ” trên màn hình. Như đối với mọi cửa sổ, bạn cũng có thể điều tiết kích cỡ “bình thường” của cửa sổ bản vẽ. Cụ thể, bạn trỏ vào biên cửa sổ (sao cho dấu trỏ biến thành mũi tên hai đầu) và kéo biên cửa sổ để đạt được kích cỡ mong muốn. Việc này không có gì đáng chú ý. Ta hãy mở xem vài bản vẽ có sẵn.
– Chọn File > Open. Hộp thoại Open Drawing xuất hiện giúp bạn tìm tới thư mục chứa các tập tin bản vẽ
– Tìm đến thư mục Program FilesCorelCorel Graphics 11DrawSamples. Bạn thấy vài tập tin bản vẽ như hình 5. Bạn để ý, phần phân loại của tên tập tin bản vẽ là CDR (viết tắt của Corel DRAW )
-Bấm-kép vào bản vẽ Sample1 (hoặc nhấn vào Sample1 rồi bấm nút OK). Mở bản vẽ Sample1

Hình 5
Cửa sổ bản vẽ Sample1 xuất hiện trên màn hình, “gối đầu” lên cửa sổ bản vẽ Graphic1. Bản vẽ Sample1 đủ cho bạn thấy Corel DRAW cũng có thể giúp ta trình bày trang in sắc sảo như thế nào.
“Thừa thắng xông lên”, ta hãy mở thêm bản vẽ khác, bản vẽ Sample2.
– Chọn File > Open rồi bấm-kép vào bản vẽ Sample2. Bản vẽ Sample2 xuất hiện, gối đầu lên bản vẽ Sample1 (hình 6)

Hình 6
-Bấm vào thanh tiêu đề của cửa sổ Sample1. Bản vẽ Sample1 được đẩy lên “trên cùng”, trở thành bản vẽ hiện hành
– Bấm vào thanh tiêu đề của cửa sổ Graphic1. Bản vẽ Graphic1 được đưa lên “trên cùng”, trở thành bản vẽ hiện hành
Ghi chú 
• Đối với bản vẽ phức tạp, nếu máy của bạn chưa được mạnh lắm, thời gian mở bản vẽ cũng đều có thể kéo dài. Nếu còn thiếu kiên nhẫn ngồi “đếm ruồi”, chờ Corel DRAW mở xong bản vẽ, bạn cũng có thể gõ phím Esc để cắt ngang tiến độ ấy, xin thôi… mở.
Với cách bày biện các cửa sổ bản vẽ như hiện thời, mỗi lúc bạn chỉ cũng có thể quan sát một bản vẽ. Trong môi trường Windows, ngoài kiểu phối trí gối đầu (cascade) của các cửa sổ, bạn còn cũng đều có thể chọn kiểu phối trí lấp đầy (tile), theo đó, các cửa sổ được dàn ra theo hàng ngang hoặc theo hàng dọc sao cho lấp đầy vùng màn hình được phép hiển thị.
– Chọn Window > Tile Horizontally. Bạn quan sát được cả 4 bản vẽ
Giả sử bạn cần quay trở lại làm việc với bản vẽ Graphic1…
– Bấm vào nút “phóng to” (Maximize)  trên cửa sổ Graphic1. Cửa sổ Graphic1 trở lại kích thước cực đại, che khuất các cửa sổ bản vẽ khác
Lại giả sử bạn phải coi lại bản vẽ “của người ta”…
– Bấm vào nút “thu gọn” (Minimize) trên cửa sổ Graphic1.Cửa sổ Graphic1 thu nhỏ hết cỡ, chỉ với lại thanh tiêu đề, để lộ ra các bản vẽ đã mở
– Chọn Window > Tile Vertically. Các cửa sổ bản vẽ Sample1 và Sample2 “đứng thẳng lên”
Bạn đã biết rõ ra sao là cửa sổ bản vẽ và có dịp thực hành các thao tác căn bản khi làm việc với nhiều bản vẽ cùng lúc: chọn bản vẽ hiện hành, bố trí các bản vẽ trên màn hình, phóng to hoặc thu gọn bản vẽ. Việc mở nhiều bản vẽ cùng theo đó sẽ làm bộ nhớ máy tính bị chiếm mất quá nhiều chỗ và thu hẹp lại. Hoạt động của Corel DRAW cũng có thể có thể trở nên chậm chạp hơn do đều đặn dọn chỗ trên bộ nhớ (sao chép tạm thời dữ liệu từ bộ nhớ “xuống” đĩa cứng và ngược lại). Vì vậy, khi không còn cần đến bản vẽ nào, bạn nên đóng bản vẽ ấy lại, nói rõ hơn là đóng cửa sổ bản vẽ bằng cách nhấn vào nút Close ở góc trên, bên phải cửa sổ. Khi ấy, dữ liệu của bản vẽ bị xóa sổ trên bộ nhớ. Bạn chú ý, thao tác đóng cửa sổ khác với thao tác thu gọn cửa sổ như ta vừa thực hiện. Cửa sổ bản vẽ bị thu gọn vẫn tồn tại trên bộ nhớ và sẵn sàng hiển thị “đàng hoàng” trên màn hình khi bạn nhấn vào nút khôi phục hoặc phóng to.
– Bấm vào nút Close  trên cửa sổ Sample2. Cửa sổ Sample2 biến mất
– Tương tự, đóng cửa sổ Sample1. Cửa sổ Sample1 biến mất
– Bấm vào nút “phóng to” (Maximize)user posted imagetrên cửa sổ Graphic1. Cửa sổ Graphic1 quay trở lại kích cỡ cực to
Bạn mệt chưa? Ta nghỉ đi nhé…
– Chọn File > Exit. Cửa sổ Corel DRAW biến mất
Khi bạn chọn File > Exit hoặc bấm nút Close ở góc phải, trên cùng, bản thân Corel DRAW bị xóa khỏi bộ nhớ máy tính.
Bài 3 
Hỏi-Đáp
Sao Corel DRAW không cấp phép in ra tuốt luốt mọi đối tượng trong miền vẽ mà bày đặt “trang in” làm những gì nhỉ?
Chắc bạn mới “gặp gỡ” Corel DRAW lần thứ nhất tiên? Những người từng dùng Corel DRAW cho dù từ “cái thuở ban đầu lưu luyến” ở thập niên 80 đều biết rõ rõ ích lợi của “trang in” nằm giữa miền vẽ. Với cái coi là trang in, Corel DRAW giúp bạn hình dung rõ rệt tờ giấy (với kích cỡ đã chọn), cũng có thể có thể ngắm nghía khá chuẩn xác thành tựu của mình trước lúc thực thụ in ra giấy. Nếu không, có lẽ ta sẽ tiêu tốn khá nhiều giấy để in thử nhiều lần, loay hoay trong cái vòng luẩn quẩn “in rồi sửa, sửa rồi in… đại”.
Tôi hỏi thế này khí không phải, tất cả được vẽ ra để mà in, có ai… ngu gì mà “vẽ voi” bên ngoài trang in?
Có những hình ảnh mà ta chỉ cần in phần nào (hình bít-máp nhận được từ máy quét chẳng hạn). Ngoài ra, bạn có công nhận rằng đôi lúc vẽ toàn album ảnh ảnh chi đó rồi in một phần lại rất dễ hơn vẽ chỉ có “một phần”? Và chỉ cần xê dịch hình ảnh để phần “chìm” của nó lọt vào trang in, bạn có ngay một bản vẽ khác. Khi nào cần bỏ qua, không muốn in chi tiết gì đó trong bản vẽ, bạn chỉ việc kéo nó ra ngoài trang in. Khỏe re! Nếu đổi ý, bạn lại kéo chi tiết ấy vào trang in. Nói chung, đặt tạm các đối tượng chưa cần in ở ngoài trang in là điều cần làm hơn xóa khỏi hẳn đối tượng đó. Tình thế công việc luôn luôn thay đổi, bạn biết đó.
Tôi để ý thấy phía dưới miền vẽ của Corel DRAW , ở bên trái có dấu mũi tên và dấu cộng. Đó là gì vậy?
Bạn tinh ý thật! Đó là cơ quan chuyển trang (page navigator), rất cần có đối với bản vẽ gồm nhiều trang. Dấu cộng giúp bạn chèn thêm trang mới. Hai dấu mũi tên với vạch đứng bên cạnh giúp bạn lật đến trang cuối và quay trở lại trang đầu.
Mở nhiều bản vẽ cùng lúc có ích lợi gì? Máy thì chạy chậm chạp, mình lại bị hoa mắt!
Trong những phiên bản đầu tiên, Corel DRAW chỉ cấp phép ta mỗi lúc làm việc với một bản vẽ duy nhất. Khi cần gì đó trong bản vẽ khác (“cọp pi” vài thứ có sẵn chẳng hạn), bạn phải mở bản vẽ ấy, để rồi sau đó mở lại bản vẽ đang làm dở dang. Trong mỗi lần mở bản vẽ, Corel DRAW dò tìm bản vẽ nằm trên đĩa cứng và nạp bản vẽ vào bộ nhớ máy tính. Thao tác này khá mất thì giờ.
Khi bạn mở nhiều bản vẽ cùng lúc, Corel DRAW “bày biện” các bản vẽ ngay trên bộ nhớ, giúp bạn làm việc thuận lợi hơn. Tuy nhiên, nếu máy tính của bạn có bộ nhớ “hơi bị” nhỏ (dưới 128 MB) thì ích lợi của việc mở đồng thời nhiều bản vẽ có lẽ sẽ tiêu tan! Thôi thì bạn gắng gượng “bơm” thêm bộ nhớ cho máy tính. Để làm ăn chuyên nghiệp, máy tính của bạn nên có bộ nhớ từ 256 MB trở lên. Ngoài ra, để khỏi rối mắt, hoa mắt, bạn nên dùng màn hình lớn hơn (17 inch trở lên) và dùng chế độ hiển thị 1024 pixel x 768 pixel (tối thiểu). Nếu không thấy khá hơn, chắc bạn “phê phê” vì cái gì khác rồi!
Sao bảng màu của Corel DRAW chỉ có 1 ít màu, vậy thì làm ăn gì được?

Corel DRAW có nhiều bảng màu khác nhau, ta chỉ chưa xét đến đó thôi. Bảng màu mà bạn thấy trong lần đầu tiên làm việc với Corel DRAW sau khi cài đặt xem là bảng màu mặc định (default palette). Thật ra, bảng màu mặc định cũng đều có khá nhiều màu. Bạn chỉ cần bấm vào mũi tên chỉ lên hoặc mũi tên chỉ xuống ở hai đầu bảng màu để xê dịch đến các ô màu bị che khuất. Bạn cũng cũng đều có thể bấm vào mũi tên chỉ qua trái ở cuối bảng màu (hình 1) để bảng màu được “bung ra”, dễ chọn màu hơn. Muốn bảng màu thu nhỏ lại thành một cột như cũ, bạn nhấn vào phần trống cuối bảng màu (chỗ không có ô màu) hoặc nhấn vào đâu đó trên miền vẽ.
Theo hướng dẫn, tôi trỏ vào một công cụ của Corel DRAW và chờ tên thường gọi của nó hiện lên (cho biết). Chờ riết nhưng chả thấy chi cả. Nói thế mà hổng phải vậy?
Chắc là người nào đó dùng Corel DRAW trước bạn (trên máy tính mà bạn đang dùng) đã quá thành thạo đến nỗi không thích tên gọi của công cụ hiện lên “rườm rà” và đã dẹp bỏ các tên ấy đi. Thế thì bạn có thể cho người ấy “biết mặt anh hào” bằng phương pháp quy chế lại, cho tên công cụ hiện ra bình thường. Cách thức như sau. Bạn chọn Tools > Options để mở hộp thoại mang tên Options . Tiếp theo, bạn nhấn vào dấu cộng trước Workspace trong lược đồ cây bên trái hộp thoại để “bung” các nhánh con thuộc nhánh Workspace (nếu trước Workspace là dấu trừ, tức các nhánh con của nhánh Workspace đã xuất hiện, bạn chẳng cần thực hiện thao tác này). Xong, bạn bấm vào Display (một nhánh con của Workspace). Những quy chế liên quan đến chế độ hiển thị của Corel DRAW được bày ra bên phải hộp thoại. Chắc chắn bạn sẽ thấy ô duyệt (check box) Show Tooltips ở trạng thái “tắt” (không có dấu duyệt). Bạn “bật” ô duyệt Show Tooltips rồi chọn OK là xong.


Bài 4

Bạn đã biết cách khởi động Corel DRAW , khá quen mắt với cửa sổ Corel DRAW, khá quen tay với chuột (chuột máy tính í!), coi như “đã tỏ đường đi lối về”. Giờ là khi bạn có thể bắt đầu tập tành các thao tác thông thường trên đối tượng của bản vẽ, các thao tác sẽ lặp đi tái diễn trong suốt thời gian bạn làm việc với Corel DRAW sau này.
Đối tượng! Bạn đã nghe nhắc đến đối tượng vài lần nhưng chưa một lần gặp mặt. Đối tượng là bất cứ thứ gì được dẫn vào bản vẽ, được tạo bởi chính Corel DRAW hoặc bởi các phương tiện khác. Dù các đối tượng có thể có nguồn gốc khác nhau, có bản tính khác nhau nhưng một khi đã nằm trên bản vẽ của  Corel DRAW , bạn thao tác với chúng theo cùng cách thức.
Để thuận lợi trong bước đầu, ta hãy lấy một đối tượng có sẵn ở đâu đó, từ trên mạng chẳng hạn.
Lấy đối tượng từ mạng
-Chọn Tools > Scrapbook > Contents on the Web. Cửa sổ neo đậu Scrapbook hiện ra, đồng thời Windows yêu cầu bạn nối kết với Internet (nếu bạn chưa “ở trên mạng”)
– Bấm-kép vào thư mục Clipart rồi bấm kép vào thư mục Fun_people trong cửa sổ Scrapbook. Bạn thấy một số hình vẽ vui vui (hình 1)

Scrapbook là nơi cất trữ những hình vẽ linh tinh để “làm vốn”. Với thao tác vừa thực hiện, bạn đã truy xuất bộ sưu ảnh (clip-art) do hãng Corel cung cấp. Đó là những hình vẽ xinh xinh được tạo bởi Corel DRAW và được sắp xếp theo chủ đề.
– Trỏ vào hình vẽ nào này mà bạn thích trong cửa sổ Scrapbook, kéo nó vào miền vẽ. Hình đã chọn xuất hiện trên miền vẽ. Bạn đã có được đối tượng đầu tiên
Xin nhắc bạn, khi nghe nói “kéo”, bạn phải ấn giữ phím trái của chuột. Bạn chỉ thả phím ấy lúc kết thúc thao tác.
– Thu gọn cửa sổ neo đậu Scrapbook
Điều chỉnh tầm nhìn
Trên “hộp công cụ” Toolbox ở cạnh trái miền vẽ có một cái “kính lúp” user posted image giúp bạn “nhìn gần lại” (zoom in) hoặc “nhìn lui xa” (zoom out) các đối tượng trong miền vẽ. Nói một cách… trịnh trọng, đó là công cụ nhìn (zoom tool). Cách dùng rất đơn giản. Bạn chỉ việc nắm lấy “kính lúp” rồi bấm vào chỗ mà bạn muốn “nhìn gần lại” hoặc “căng” một khung định vị độ rộng cần quan sát.
– Bấm vào “kính lúp” trên hộp công cụ
– Trỏ vào phía trên, bên trái hình vẽ và kéo “kính lúp” xuống dưới, qua phải. Bạn thấy hình vẽ lớn lên (hình 2)

Xin nhấn mạnh rằng thao tác vừa thực hiện chỉ điều chỉnh tầm nhìn chứ không ảnh hưởng đến đối tượng. So với kích cỡ trang in, kích thước hình vẽ của bạn vẫn thế, không thay đổi..
Ngay lúc cầm lấy “kính lúp”, bạn để ý thanh công cụ Property Bar lập tức thay đổi, bày ra các khả năng lựa chọn như hình 3, giúp bạn điều chỉnh tầm nhìn theo những cách không giống nhau (để biết tên gọi của từng khả năng lựa chọn, bạn biết đó, ta chỉ cần trỏ vào biểu tượng tương ứng và chờ chừng một giây).

Nếu nhấn vào Zoom In  bạn sẽ “nhìn gần lại” trang in với độ phóng đại là 2 (tức là thấy hình ảnh lớn lên cao gấp đôi). Ngược lại, lúc bấm vào Zoom Out  , bạn cũng có thể có thể “lui ra xa”, thấy hình ảnh nhỏ đi phân nửa.
Zoom to Selected   giúp bạn chỉnh tầm nhìn vừa đủ bao quát mọi đối tượng đã chọn (ta sẽ coi xét cách chọn đối tượng trong phần tiếp theo).
Nếu chọn Zoom to Page   , tầm nhìn sẽ có chỉnh sao cho vừa đủ khái quát toàn trang in. Tương tự, Zoom to Page Width  và Zoom to Page Height   giúp bạn lấy tầm nhìn vừa đủ khái quát chiều rộng hoặc độ cao của trang.
– Lần lượt chọn từng khả năng vừa nêu trên thanh công cụ Property Bar và giám sát kết quả
Các thao tác điều chỉnh tầm nhìn được thực hiện rất đều đều khi làm việc với Corel DRAW. Do vậy bạn nên tái diễn nhiều lần thao tác như vậy cho đến khi cảm nhận ra hoàn toàn nhẹ nhõm khi cầm “kính lúp”. Trong những công việc mà ta sẽ khiến từ đây về sau, bạn cứ tự nhiên dùng “kính lúp” để “nhìn gần lại” hoặc “lui ra xa” bất cứ khi nào có nhu cầu.
Di chuyển đối tượng
Một cách tự nhiên, mỗi khi muốn làm chi đó với một đối tượng, ta phải chọn đối tượng ấy. Nhờ vậy, Corel DRAW mới biết rằng bạn mong muốn tác động vào đối tượng nào. Để chọn đối tượng, bạn dùng công cụ chọn (pick tool)  Đó là công cụ trước mắt của hộp công cụ (ở cạnh trái miền vẽ).
– Bấm vào công cụ chọn. Lấy công cụ chọn (hình 3)
– Bấm vào hình vẽ. Tám dấu chọn (ô vuông nhỏ, màu đen) xuất hiện quanh hình vẽ
– Bấm vào nơi nào đó trên miền vẽ. Các dấu chọn biến mất. Hình vẽ được “thôi chọn”
– Bấm vào hình vẽ. Tám dấu chọn lại xuất hiện quanh hình vẽ

Sau khi nhấn vào giữa hình vẽ để chọn, bạn thấy xuất hiện các dấu chọn (selection handle), tức là các ô vuông nhỏ, màu đen xung quanh hình, biểu thị trạng thái “được chọn”. Về sau, bạn sẽ thấy rõ rằng đối tượng vừa tạo nên dĩ nhiên ở trong trạng thái “được chọn”.
Tám dấu chọn giúp bạn hình dung về một khung chữ nhật bao quanh đối tượng. Người ta gọi đấy là khung bao (bounding box) của đối tượng. Khi nào bạn nghe nói đến kích cỡ của đối tượng, thực chất đó là kích thước của khung bao đối tượng.
Bạn để ý, giữa hình vẽ có một dấu X. Đó là “tay nắm” để bạn di chuyển (move) đối tượng. Cụ thể, muốn di chuyển đối tượng, bạn trỏ vào dấu X ở phần giữa đối tượng được chọn (sao cho dấu trỏ của chuột biến thành “mũi tên bốn đầu”) rồi kéo đối tượng đến địa thế mới.
– Trỏ vào dấu X ở phần giữa hình vẽ. Dấu trỏ chuột biến thành “mũi tên bốn đầu”
– Kéo hình vẽ sang trái hoặc sang phải
Như bạn thấy, thao tác di chuyển đối tượng rất tự nhiên, tương tự ta di chuyển một vật trên bàn: sờ tay vào vật, giữ chặt và đưa vật đến vị trí mới. Các thao tác co dãn (stretch), quay tròn (rotate) và kéo xiên (skew) đối tượng cũng đã được thực hành 1 cách tự nhiên giống như vậy.
Bài 5
Bạn cũng đều có thể làm cho đối tượng mập ra hay ốm đi, cao lên hay lùn xuống tùy thích bằng phương pháp trỏ vào một trong các dấu chọn (sao cho dấu trỏ chuột biến thành mũi tên hai đầu) và kéo chuột tới lui cho tới khi đối tượng đạt được dáng bộ như ý.
– Trỏ vào dấu chọn bên dưới, ở giữa. Dấu trỏ chuột biến thành mũi tên hai đầu, thẳng đứng
– Kéo chuột lên trên. Nhân vật của ta bị “bẹp gí” (hình 1)

– Thả phím chuột. Các dấu chọn tái hiện
– Chọn Edit > Undo Stretch hoặc ấn Ctrl+Z. Nhân vật “đẹp giai” trở lại
Undo và Redo
Màn trình diễn “chuột vờn người” của ta hoàn thành một cách “có hậu” nhờ tổ hợp phím Ctrl+Z, tương đương với mục chọn Undo trên trình đơn Edit. Bằng cách ấn tổ hợp phím Ctrl+Z, bạn hủy bỏ kết quả của thao tác vừa thực hiện. Nếu ấn Ctrl+Z nhiều lần, bạn có thể hủy bỏ liên tục kết quả của nhiều thao tác đã thực hiện, khôi phục trạng thái cũ nào đó của bản vẽ. Theo mặc định, bạn có thể lần lượt hủy bỏ kết quả của… 99 thao tác trong quá khứ. Do vậy, khi làm việc với Corel DRAW , ta hầu như không sợ sai lầm (sướng thiệt!).
Trên trình đơn Edit còn có mục chọn Redo, có tác dụng ngược với Undo. Bạn chọn Redo trong trường hợp đổi ý, muốn “lấy lại” kết quả bị hủy bỏ “quá trớn” bởi Undo.
– Chọn Edit > Redo Stretch, Nhân vật “bẹp gí”
– Chọn Edit > Undo Stretch hoặc ấn Ctrl+Z. Nhân vật “đẹp giai”
Với Undo và Redo, bạn cũng có thể đi lại nhiều lần trên con đường của quá khứ để bình tĩnh suy nghĩ, chọn lựa “cái được” và “cái mất”, điều mà ta không thể có trong cuộc đời thực!
Từ đây về sau, khi “nhào nặn” nhân vật, ta sẽ đều đặn dùng tổ hợp phím Ctrl+Z để phục hồi tình trạng cũ, tránh sự biến dị thái quá làm cho bạn khó nhận định về hiệu lực của thao tác. Ta hãy tiếp tục thí nghiệm thao tác co dãn đối tượng.
– Trỏ vào dấu chọn bên trái, ở giữa. Dấu trỏ biến thành mũi tên hai đầu, nằm ngang
– Kéo chuột qua phải. Nhân vật bị “sụt cân” (hình 2)

– Thả phím chuột, Các dấu chọn tái hiện
– Ấn Ctrl+Z. Nhân vật trở lại như cũ
Phóng to, se khít đối tượng
Trong thao tác vừa thực hiện, ta đều làm biến dạng nhân vật do chỉ thay đổi độ cao hoặc bề rộng của hình. Nếu muốn hình được phóng to hoặc thu nhỏ trên trang in nhưng vẫn không bị mất cân đối, bạn kéo dấu chọn ở một trong bốn góc. Khi ấy, bề rộng và độ cao thay đổi cùng lúc, tỉ lệ giữa chúng được giữ nguyên.
– Trỏ vào dấu chọn ở góc dưới, bên phải. Dấu trỏ biến thành mũi tên hai đầu nằm nghiêng
– Kéo chuột qua phải, xuống dưới. Nhân vật lớn dần theo sự điều khiển của bạn
– Kéo chuột qua trái, lên trên. Nhân vật nhỏ dần đi
– Thả phím chuột. Nhân vật có kích cỡ mới
– Ấn Ctrl+Z, Nhân vật trở lại kích thước cũ
Để nhấn mạnh sự khác biệt với thao tác co dãn, gây biến dị đối tượng, người ta gọi chung thao tác phóng to, thu nhỏ không làm đối tượng biến dạng như bạn vừa thực hiện là định cỡ (scale) đối tượng.
Bạn nên lặp lại nhiều đợt thao tác nêu trên cho quen tay, lấn lượt nắm lấy các dấu chọn ở các góc khác nhau, tùy thích phóng to hình nhân vật để quan sát thật rõ các đường nét.
Tác dụng của phím Shift
Bạn để ý, khi ta kéo dấu chọn ở góc dưới, bên phải, nhân vật sau khi được phóng to, thu nhỏ bị lệch tâm so với trước. Muốn hình ảnh được phóng to hoặc se khít một cách cân đối ở cả bốn phía, bạn ấn giữ phím Shift khi kéo dấu chọn và chỉ thả phím Shift sau khi thả phím chuột.
– Trỏ vào dấu chọn ở góc dưới, bên phải. Dấu trỏ biến thành mũi tên hai đầu, nằm nghiêng
– Kéo chuột tùy ý, Kích thước nhân vật thay đổi và tâm của hình bị xê dịch
– Ấn giữ phím Shift, Kích thước nhân vật thay đổi nhưng tâm của hình giữ nguyên
– Thả phím chuột rồi thả phím Shift. Bạn có kết quả như ý
– Ấn Ctrl+Z, Hủy bỏ “kết quả như ý” đó
Xin nhấn mạnh rằng phím Shift có hiệu lực trong mọi thao tác co dãn đối tượng. Bạn hãy thực hành thao tác tương tự như trên với những dấu chọn khác xem sao nhé.
Tác dụng của phím Ctrl
Nếu bạn ấn giữ phím Ctrl trong khi kéo dấu chọn trong thao tác co dãn đối tượng, tỉ lệ co dãn sẽ chẳng thể thay đổi tùy ý mà được kiểm soát ở các mức cố định: 100%, 200%, 300%,… Điều này rất cần thiết khi bạn mong muốn co dãn đối tượng một cách chính xác để tạo nên kích thước gấp đôi, gấp ba,.. Cũng như tình huống phím Shift, bạn chỉ thả phím Ctrl sau khi thả phím chuột.
– Kéo dấu chọn bên trái, ở giữa qua phải hoặc qua trái. Nhân vật co dãn linh hoạt theo sự điều khiển của bạn
– Ấn giữ phím Ctrl và kéo chuột qua trái. Bạn thấy “sượng tay” vì nhân vật chỉ “chịu” kéo dãn gấp đôi, gấp ba
– Vẫn ấn giữ phím Ctrl, kéo chuột qua phải,nhân vật bị lật từ trái qua phải
– Thả phím chuột và thả phím Ctrl
– Ấn Ctrl+Z
Trong tình huống nhân vật bị lật từ trái qua phải như trên, tỉ lệ co dãn theo hướng rộng là -100%, tỉ lệ co dãn theo phía cao là 100% (tức chiều cao không đổi). Bạn cứ tự nhiên tiếp tục thử nghiệm theo ý mình để “cảm thấy” rõ rệt hiệu lực của phím Ctrl.
Tác dụng “khó chịu” của phím Ctrl còn thể hiện trong nhiều thao tác khác, chứ không riêng gì thao tác co dãn. Chẳng hạn, nếu ấn giữ phím Ctrl trong khi di chuyển đối tượng, bạn chỉ có thể đưa đối tượng đi ngang hoặc đi dọc (tác dụng như vậy của phím Ctrl thật ra rất hữu ích khi bạn mong muốn dàn các đối tượng thành hàng ngang hoặc hàng dọc). Khi quay tròn đối tượng (ta sẽ tìm hiểu sau), nếu bạn ấn giữ phím Ctrl, góc quay chỉ được phép thay đổi theo từng mức 15 độ: 0 độ, 30 độ, 45 độ,… Chính vì tác dụng “khống chế” phổ biến của phím Ctrl, người dùng Corel DRAW thường gọi phím Ctrl là phím khống chế (constraint key).
Chú ý rằng hiệu lực của phím Shift và phím Ctrl hoàn toàn độc lập, không xung đột nhau. Bạn cũng có thể có thể vừa ấn phím Shift, vừa ấn phím Ctrl để cả hai phím cùng lúc phát huy tác dụng.
Bài 6 
Thanh công cụ Property Bar 
Chắc bạn còn nhớ, thanh công cụ Property Bar có khả năng thay đổi xoành xoạch tùy theo tình huống cụ thể. Khi co dãn đối tượng, bạn để ý, thanh công cụ Property Bar có dạng như hình 1 (bạn sẽ thấy tên thường gọi của các phần tử khác nhau trên thanh công cụ nếu trỏ vào từng thành phần và chờ chừng một giây).

Ý nghĩa của mỗi đối tượng bên trên thanh công cụ Property Bar như sau:
Object(s) Position: Đây là thành phần bộc lộ địa thế của đối tượng (cụ thể là tọa độ góc trên, bên trái của khung bao), bao gồm hai ô x và y cho thấy hoành độ và tung độ, tính từ mốc số 0 trên thước đo ngang và thước đo dọc. Muốn di chuyển đối tượng đến địa ra sao đó có tọa độ cho trước, bạn có thể bấm-kép vào ô và gõ tọa độ. Trong Windows, người ta thường gọi loại ô như vậy là ô nhập liệu (input field).
Object(s) Size: Thành phần này bộc lộ kích cỡ đối tượng (thực chất là kích thước của khung bao). Ô nhập liệu bên trên cho biết chiều rộng, ô nhập liệu bên dưới cho thấy chiều cao. “Gọi là ô nhập liệu? Nghĩa là ta có thể gõ trị số mới vào đấy?”. Vâng, đúng như vậy. Bạn có thể quy chế “thẳng thừng” kích thước chính xác của đối tượng bằng phương pháp gõ trị số cụ thể vào hai ô nhập liệu đang xét.
Scale Factor: Hai ô nhập liệu này bộc lộ liên tiếp tỉ lệ co dãn theo bề rộng và theo phía cao khi đang bạn đang co dãn đối tượng. Bạn cũng đều có thể gõ vào ô nhập liệu tỉ lệ co dãn cụ thể. Chẳng hạn, để làm đối tượng được chọn dãn rộng gấp đôi, bạn gõ vào ô nhập liệu bên trên trị số 200 (tức 200%).
Nonproportional Scaling/Sizing Ratio: Thành phần này còn có biểu tượng hình ổ khóa với hai tình trạng đóng và mở (để đóng/mở bạn chỉ việc nhấn vào ổ khóa). Khi ổ khóa đóng, tỉ lệ co dãn theo phía rộng và theo độ cao luôn luôn bằng nhau, giữ cho đối tượng không bị biến dạng. Ví dụ, nếu bạn đóng khóa này và gõ 200 trong ô nhập liệu Scale Factor bên trên, ô nhập liệu Scale Factor bên dưới tự động nhận trị số 200. Để có thể điều tiết độc lập mỗi ô nhập liệu Scale Factor, bạn cần mở khóa.
Angle of Rotation: Khi bạn quay tròn đối tượng (ta sẽ tìm hiểu cách làm chuyện này trong phần tiếp theo), góc quay tính bằng độ được bộc lộ trong ô nhập liệu này. Cũng như các ô nhập liệu vừa nêu, bạn có thể quay tròn đối tượng được chọn bằng phương pháp gõ trị số góc quay cụ thể vào ô nhập liệu Angle of Rotation.
Mirror Buttons: Thành phần này gồm hai nút nhấn giúp bạn lật ngang hoặc lật đứng đối tượng được chọn. Cách thức này nhanh ***ng hơn so với việc nắm lấy dấu chọn, điều tiết để làm được tỉ lệ co dãn theo phía rộng hoặc theo phía cao là -100%.
Bạn còn thấy có các phần tử khác nữa trên thanh công cụ Property Bar nhưng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu trong dịp khác. Lúc này ta hãy thử “chơi bời” chút xíu với những phần tử vừa nêu.
– Bấm-kép vào ô nhập liệu Scale Factor bên trên. Trị số 100.0 trong ô bị “đảo màu”, bộc lộ tình trạng sẵn sàng để thay đổi
– Đóng khóa Nonproportional Scaling/Sizing Ratio. Khóa được “bấm lại”
– Gõ 200 và gõ Enter, Nhân vật của ta lớn lên cao gấp đôi
– Ấn Ctrl+Z
– Bấm vào nút Mirror Buttons bên trên. Nhân vật bị lật ngang
– Ấn Ctrl+Z
– Bấm vào nút Mirror Buttons bên dưới. Nhân vật bị lật đứng
– Ấn Ctrl+Z
– Bấm-kép vào ô nhập liệu Angle of Rotation. Trị số 0.0 trong ô bị “đảo màu”, thể hiện tình trạng sẵn sàng để thay đổi
– Gõ 45 và gõ Enter. Nhân vật bị quay tròn 45 độ
– Ấn Ctrl+Z
Quay tròn đối tượng
Việc quay tròn (rotate) đối <

Từ khóa bài viết:

Bài viết Hướng Dẫn Sử Dụng Corel DRAW – Học thiết kế đồ họa được tổng hợp và biên tập bởi sửa máy tính PCI – PCI Group Mọi ý kiến đóng góp và phản hồi vui lòng gửi Liên Hệ cho chúng tôi để điều chỉnh. Xin cảm ơn.

Bài Viết Liên Quan


Bài Viết Khác


Ads_ngang